Phạm Duy Khiêm – Légendes des terres sereines – Huyền truyện miền thanh lãng


Thụy Khuê

Với chủ đích giới thiệu cái hay, cái đẹp trong văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa phương Đông nói chung với thế giới bên ngoài, Phạm Duy Khiêm, trong Légendes des terres sereines – Huyền truyện miền thanh lãng, bằng tiếng Pháp, sáng tác lại ba mươi truyện rút từ cổ tích hoặc các giai thoại văn hóa Việt Nam và Trung Hoa: Trương Chi, Khuất Nguyên, Con gái Ngọc Hoàng, Bóng người và người xa vắng, Quan Âm Thị Kính, Người thợ may và ông quan, Hòn Vọng Phu, Từ Thức, Ngân Hà, Sự tích con muỗi, Tú Uyên, Rùa vàng, Giấc mộng Nam Kha, Mỵ Châu Trọng Thủy, Anh có lý, Cờ tiên, Anh em và bè bạn, Trang Tử khóc vợ, Chử Đồng Tử và Tiên Dung, Hai hộp trà, Nhị Khanh, Cái bình đánh cắp, Rủ nhau cùng chết, Sự tích con dã tràng, Người đầu bếp và con cá, Sự tích Nguyễn Kỳ, Truyện Hứa Do, Đứa con của người chết, Trầu cau, Cơi trầu của bà tôi.


Phạm Duy Khiêm (dấu hoa thị)

Phạm Duy Khiêm – Légendes des terres sereines – Huyền truyện miền thanh lãng

Nghe thêm về Phạm Duy Khiêm                                     Trang Phê Bình Văn Học – Thụy Khuê

Huyền truyện miền thanh lãng không phải chỉ là những cổ tích hiểu theo nghĩa thông thường, mà Phạm Duy Khiêm dùng cổ tích như cái cớ sáng tạo và truyền bá tư tưởng. Ông viết lại cổ tích với mộ văn phong đầy chất thi ca và hướng về độc giả Tây phương, ông tìm cách giải thích những mấu chốt trong tâm hồn Việt, trong văn hóa Việt, xuyên qua ý nghĩa một huyền thoại. Với bút pháp tế nhị đầy cảm xúc và hình ảnh, Phạm Duy Khiêm dựng nên những mẩu đời, mẩu mộng khác thường, thoát khỏi cách kể truyện cổ tích bình thường, dù cho chúng có bắt đầu bằng hai chữ ngày xưa…

Dưới tựa đề Le cristal d’ amour (Tình pha lê hay Thủy thể tình yêu), Phạm Duy Khiêm, sau khi kể chuyện Trương Chi, dịch hai câu thơ:

Nợ tình chưa giả cho ai
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan

sang tiếng Pháp và giải thích: “Tuyền đài là gì? Là cõi ngoài, là cánh đồng nhật quang lan, là bóng tối của rừng sim bất tử.” Rồi ông hướng dẫn người đọc Tây phương tìm hiểu hai chữ nợ tình trong tâm hồn Việt: “Nợ tình ở đây là gì? Người ta có thể nghĩ đến Mỵ Nương nợ Trương Chi, nhưng đối với người An Nam, biểu tượng này còn có một ý nghĩa cao đẹp hơn. Trong niềm tin của người Việt, tình yêu nào cũng là tiền định, sự xum họp nào cũng là hậu quả không thể tránh được của một món nợ tiền kiếp. Cho nên khi hai định mệnh ràng buộc với nhau là họ đã chung nhau tháo gỡ một gánh nặng. Vì thế Mỵ Nương tất nhiên phải gặp anh thuyền chài, mặc những ngăn cách. Khi nàng nghe thấy tiếng hát trên sông, khi chàng ngày đêm tưởng nhớ đến khuôn mặt yêu kiều thoảng thấy, họ phải tìm đến nhau và hai trái tim mù lòa cùng đập theo nhịp điệu định mệnh. Bởi họ không được xum vầy lúc chàng còn sống, món nợ vẫn còn đây, cho nên Trương Chi không thể tan hình biến dạng sau khi chết.

Viên ngọc trong như pha lê mà người ta tìm thấy trong quan tài Trương Chi nhiều năm sau, không chỉ là những tàn dư của một tình yêu phi thường đọng lại sau khi thân xác đã tan, mà đó là con người toàn thể và trọn vẹn, đó là tử hậu hình hài, đó là khuôn mặt của định mệnh dang dở đã kết tinh để đợi chờ.”

Đó là những “lời bình” truyện Trương Chi, dưới ngòi bút Phạm Duy Khiêm mà chúng tôi thử phỏng dịch. Lối viết “cổ tích” của ông là như thế, văn chương ông như thế, cho nên, hơn nửa thế kỷ qua, vẫn chưa ai thay thế được Phạm Duy Khiêm trong ngôi vị “đại sứ” cho văn hóa Việt tại nước ngoài.

Sự tích dã tràng có nguồn gốc cổ tích từ chuyện một thanh niên tên Dã Tràng, tình cờ cứu được thần rắn nên vị thần tặng chàng viên ngọc quý, chỉ cần ngậm ngọc vào miệng là nghe được tiếng nói muôn loài. Nhưng vì bất cẩn, Dã Tràng đánh rơi ngọc xuống biển, tiếc quá nên khi chết, chàng trở thành con dã tràng, ngày ngày xe cát lấp biển để tìm ngọc.
Không dừng ở chủ đề chính về những công trình hoang tưởng của con người “dã tràng xe cát biển đông, nhọc mình mà chẳng nên công cán gì”, Phạm Duy Khiêm mở thêm một triết lý sống khác:

“Dã Tràng đã sống hạnh phúc như thế giữa nhà vua và vạn vật, từ những sinh vật nhỏ li ti đến những mãnh vật khổng lồ, từ loài có cánh, biết bay, đến loài có chân, biết chạy, biết trèo (…) Ban đầu, nhà vua hết sức chăm chú nghe những lời đàm đạo của vạn vật. Ngài nhận thấy những sinh vật không ngẩn ngơ như người ta tưởng, và con người đã lầm khi khinh bỉ chúng. Khinh bỉ chúng cũng có nghĩa là tự khinh mình, bởi chúng giống người lạ lùng, mỗi chủng loại tạo thành một thế giới riêng với những phi lý, tàn ác, những khổ đau riêng, hệt như xã hội loài người. Vua nghe mãi cũng chán. Để thay đổi không khí, ngài dẫn Dã Tràng đi dạo dọc theo bờ bể. Vua tôi cùng hỏi chuyện đủ loại kình, ngư… Ở đây cũng vậy, những cuộc đàm luận đứng đắn rất hiếm, chẳng mấy chốc nhà vua lại khám phá ra rằng, dân cư dưới nước cũng chẳng khác gì những sinh vật trên cạn, phần lớn chỉ toàn nói xàm, nói xấu để ám hại nhau.” (trích dịch truyện Le crabe Dã Tràng)

Le crabe là bức tranh đời mà cuộc sống muôn loài được vẽ bằng hình ảnh, mầu sắc, được hát lên bằng những âm thanh sống động, mà chim muông, mây, cá… đều cất tiếng nói, một đời sống toàn diện trong quan niệm tạo vật huyền đồng, muôn loài như một. Không những Phạm Duy Khiêm đã thể hiện triết lý sâu xa của Lão Trang mà ông còn đưa ra những thực tế phũ phàng khi so sánh người và vật: con người cũng chẳng khác gì con vật, đâu đâu cũng chỉ nói xàm, nói láp, chẳng có đối thoại, luận bàn mà chỉ tìm cách xuyên tạc để hạ bệ và tàn sát lẫn nhau.

Nếu Dã Tràng trình bầy khía cạnh xấu xa trong con người, thì Trầu cau đưa ra những nét đạo đức, nhân ái, đầy tình yêu, lòng chân thành, trung tín của con người trong cuộc sống và sau cuộc sống. Trầu cau viết về sự biến dạng của con người thành cây cỏ. Người đọc có thể liên tưởng tới La métamorphose của Kafka, người biến thành bọ hung, nhưng hai dạng thức biến dạng métamorphose này hoàn toàn khác nhau: Kafka biến hình lúc còn sống, Trầu cau hóa thân sau khi chết. Kafka cho người biến sang vật để thấy người không bằng vật, người ác hơn vật. Phạm Duy Khiêm dùng sự tích trầu cau để vinh thăng cái đạo tình nghĩa: tình anh em, nghĩa chồng vợ, nghĩa tình như một đạo sống đẹp trong văn hóa phương Đông. Trong Trầu cau, tình nghĩa mang màu đỏ thắm của máu, nó không chỉ ở trong người, với người, lúc sống, mà nó len lỏi trong thân trầu, thân cau là những hóa thân của người sau khi chết. Rồi nó lại được hồi sinh, mãi mãi hồi sinh, trong những thế hệ đến sau… khi có ai đó, bỏ miếng trầu, miếng cau vào miệng… nó thắm thiết như dòng máu truyền đời không bao giờ phai lạt.
Trầu cau là phản đề của Dã Tràng. Viết Trầu Cau và Dã Tràng, Phạm Duy Khiêm muốn đem cái thiện, cái ác của con người hòa trong văn hóa, như để chứng minh rằng tinh thần văn hóa mà con người tạo ra hoặc diệt đi cũng chính là thể xác và máu thịt của họ.

Huyền truyện miền thanh lãng kết thúc bằng một đoản văn thật ngắn La boite de bétel de ma grand-mère (Cơi trầu của bà tôi), khơi lại những mất mát của đời người, người bà, với những xót xa thầm lặng không tên tuổi:

“Tôi mất cha từ khi còn học trung học, sự ra đi của cha tôi là một gia hình đối với bà tôi. Bà đã dành hai năm để chết mà sau này tôi mới biết.
Mặc dầu đã tám mươi, bà vẫn còn mạnh; bà thường đi bộ đến thăm mọi người, xích lô thiếu gì mà cũng chẳng đắt lắm nhưng bà không thiết. Từ khi cha tôi mất, bà không đi đâu nữa. Tôi trọ học xa, mỗi khi về thấy bà vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, bà ngồi xổm trên chiếc chõng mà cha tôi đã trút hơi thở cuối cùng, chỗ mà hai năm sau bà cũng theo cha, và có lẽ trước kia ông tôi cũng mất ở đấy, trước khi tôi chào đời…

Cha tôi để lại nhiều nợ nần, và trong những năm tháng dài bệnh tật, bạn bè quen biết dần dần xa lánh. Chỉ còn lại người vú của em trai út tôi, người vú duy nhất đã ở lại không công với gia đình sau khi tất cả những người hầu kẻ hạ khác lần lượt bỏ đi. Vú kể lại rằng: “Tội nghiệp cụ! Hôm qua cụ còn ngồi, chẳng nói chẳng rằng, trước cơi trầu. Tự nhiên cụ nhấc nắp hộp trầu lên, nhìn một lúc, bỗng bỏ xuống rồi oà lên khóc: Trầu đây, mà có ai đến đâu!”

Tôi im lặng không lộ xúc cảm, quay mặt đi. Trong ánh mắt của trái tim rưng lệ, tôi thấy bà đang sửa soạn cơi trầu, cẩn thận xếp từng miếng trầu vừa têm vào những ngăn gỗ sơn mài, cạnh những miếng cau cắt sẵn, bà không quên vài nhát rễ mỏng… Nhưng không ai đến nữa, ngày qua ngày, bà đã nhìn thấy những miếng trầu vô dụng, khô héo, úa vàng tàn tạ…

Tội nghiệp bà, con dâu bà đã giữ lại cơi trầu cũ, nhưng mẹ đâu biết là đối với tôi, nó thiêng liêng thế nào. Bởi vì mẹ không bao giờ đóng cơi trầu lại với tiếng kêu và nỗi đau của bà! Bà ơi! Con hứa với bà là sẽ giữ gìn nó, đó là cái cớ để con tiếp tục kéo dài cuộc sống phi lý trong cõi đời vô vị. Không! Đến hơi thở cuối cùng, con không quên, không có hạnh phúc nào trên đời làm con quên được giây phút bà đã oà khóc một mình bên cạnh cơi trầu.”

Với vài dòng ngắn gọn, Phạm Duy Khiêm gói trọn những đớn đau của đời, của mình, của bà trong tim cháu. Bao nhiêu kỷ niệm đã sống lại với những âm thanh, màu sắc, hơi thở, nước mắt còn nóng của ngày xưa, gợi lên những tang thương biến đổi của cả gia đình, kéo theo những lớp sóng phế hưng dồn dập phủ lấp lên phong tục, lên những tinh hoa của cuộc sống bằng những lố lăng, những vô vị, những bạc bẽo mới. Trong sâu thẳm, nhà văn vẫn muốn tìm lại, trở về những nền móng cũ, muốn níu kéo những nét đẹp muôn thuở trong con người của những miền đất mà ông gọi là terres sereines, miền thanh lãng. Tất cả những huyền truyện ông viết lại ở đây, đều có tính cách giao hưởng giữa xưa và nay, giữa cũ và mới, giữa đông và tây, chúng ẩn giấu phần tâm sự tác giả, chúng tiên tri cái chết “khuất nguyên” của tác giả, của những người tài hoa quân tử:”Ta trầm mình xuống dòng nước sông Tương, làm mồi cho cá, còn hơn là nhìn thấy sự trong sạch, không tỳ vết của ta bị vẩn đục bụi đời.”, chúng xác định những mong manh của phận người trong giấc mộng “nam kha” và chúng kết tinh những mối tình không trọn vẹn “mỵ châu trọng thủy”: “Dòng máu chảy từ thân thể Mỵ Châu, ngấm vào những con trai trên bến, phân tiết nên những hạt ngọc quý. Khi đem rửa chúng trong vịnh mà Trọng Thủy đã trầm mình, những hạt ngọc ngời lên óng ánh.” Cho nên Huyền truyện miền thanh lãng không chỉ giới thiệu với thế giới bên ngoài những mẩu truyện kỳ của đất Việt, mà còn nói lên triết lý sống – bằng bút pháp thanh cao, điêu luyện, của một nhà văn tài hoa, về tình yêu, về cái chết – một triết lý mang nặng khổ đau và cát bụi đời người ở những miền thanh lãng.

RFI

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s